Bệnh tiểu đường phụ thuộc insulin và không phụ thuộc insulin là gì?

0
589

Insulin là một loại hormone ở tuyến tụy. Tuyến tụy cho phép cơ thể chuyển hóa đường glucose thành năng lượng cho cơ thể hoạt động. Glucose là một loại đường có trong nhiều loại carbohydrat. Sau khi ăn hệ tiêu hóa sẽ bẻ gãy và biến đổi các phần tử carbohydrat thành glucose. Khi đã ngấm vào máu thì insulin sẽ khiến các tế bào trên khắp cơ thể hấp thu lượng đường này để tạo ra năng lượng.

I/ Insulin và bệnh tiểu đường:

Bệnh tiểu đường xuất hiện khi cơ thể không thể sử dụng insulin một cách hợp lý hoặc không sản xuất đáp ứng đủ liều lượng cần thiết. Insullin đóng vai trò chủ chốt trong việc cân bằng chỉ số đường trong máu. Khi glucose trong máu ở mứccao thì insulin sẽ ra hiệu cho cơ thể trữ lại lượng đường này ở gan. Lượng đường này sẽ không được tiết ra cho đến khi nồng độ đường trong máu giảm xuống, cụ thể như trong thời gian nghĩ giữa các bửa ăn hay những lúc cơ thể cần thêm năng lượng hỗ trợ hoặc hay có căng thẳng.

Có hai loại tiểu đường thường gặp là tiểu đường tuyp 1 và tiểu đường tuyp 2:

Tiểu đường tuyp 1:

Là một bệnh lý tự miễn do cơ thể không còn khả năng sản xuất ra insulin nửa. Tiểu đường tuyp 1 xảy ra khi hệ miễn dịch phá hủy toàn bộ các tế bào sản xuất insulin trong tuyến tụy. Phổ biến ở người trẻ tuổi tuy nhiên vẫn có nhiều trường hợp xuất hiện ở người lớn.

Tiểu đường tuyp 2:

Do giảm sự đáp ứng của cơ thể với insulin (kháng insulin) do đó cơ thể bệnh nhân có thể sản xuất quá liều lượng insulin để gữ cho lượng đường trong máu ở mức bình thường trong quá trình điều trị. Tuy nhiên, việc sản xuất quá mức insulin khiến các tế bào tuyến tụy bị hỏng theo thời gian và sẽ khiến cho người bệnh lệ thuộc vào giải pháp điều trị bằng insulin.

Gỉai pháp tiêm insulin có thể được dùng để điều trị cho cả hai loại tiểu đường, nhưng nhiều người tiểu đường tuyp 2 có thể kiểm soát đường huyết bằng cách uống thuốc tây và thay đổi lối sống. Khi bệnh nhân tiểu đường tuyp 2 không thể giữ lượng đường ở mức bình thường bằng việc dùng thuốc tây và thay đổi lối sống được nửa thì bắt buộc cần phải dùng insulin để có thể duy trì đường huyết ở mức bình thường . Đối với bệnh nhân tiểu đường tuyp 1 chỉ có thể sử dụng insulin để kiểm soát tình trạng bệnh do cơ thể không còn khả năng sản sinh ra insulin nửa.

1. Các loại INSULIN được dùng trong việc điều trị bệnh tiểu đường.

Insullin không có dạng thuốc uống mà được tiêm bằng bút tiêm, bút hay ống bơm insulin. Mọi loại insulin đều có tác dụng như nhau ở mức độ tế ào nhưng nhờ sự biến đổi hóa học của protein insulin đã làm nền tảng cho sự phát triển của các loại insulin khác nhau . Điểm khác nhau ở đây chủ yếu dựa vào thời điểm bắt đầu có tác dụng và thời gian duy trì tác dụng đó.

Insullin tác dụng nhanh : Dạng insulin này bắt đầu có tác dụng sau khi tiêm 15 phút . Tác dụng kéo dài 3- 5 giờ và thường được tiêm trước khi ăn.

Insullin tác dụng ngắn: Dạng insulin này có tác dụng sau khi tiêm 30-60 phút. Tác dụng kéo dài 5-8 giờ. Insulin này cũng được tiêm trước khi ăn.

Insullin tác dụng kéo dài: Chỉ đem lại hiệu quả sau tiêm 1 giờ, nhưng lại có tác dụng đến 26 giờ.

Insullin tác dụng trung bình: Dạng insulin này bắt đầu có tác dụng sau 1-3 giờ sau khi tiêm và có tác dụng kéo dài 12-16 giờ.

2. Qúa trình tiêm insulin:

Bác sĩ sẽ hướng dẫn cách tiêm insulin cho bạn, insulin được tiêm dưới da. Người bệnh có thể tiêm insulin ở nhiều bộ phận khác nhau trên cơ thể như bụng dưới, đùi.

Tuyệt đối không nên tiêm insulin trong bán kính 5cm được tính từ rốn. Người bệnh nên thường xuyên đổi vị trí tiêm insulin để tránh tình trạng chai da.

Tùy vào mỗi bệnh nhân sẽ có các phương pháp điều trị tiểu đường khác nhau. Cụ thể, bác sĩ có thể yêu cầu bệnh nhân tiêm insulin 60 phút trước khi ăn, lượng insulin cần tiêm mỗi ngày phụ thuộc vào nhiều yếu tố như ăn uống, chế độ vận động thể dục thể thao và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Một số bệnh nhân chỉ cần tiêm 1 lần một ngày trong khi có những bệnh nhân lại cần tiêm insulin 3-4 lần. Bác sĩ có thể kết hợp sử dụng insulin tác dụng nhanh và insulin tác dụng kéo dài nếu cần.

Lưu ý khi tiêm insulin:

Trước khi tiêm insulin, bệnh nhân nên dùng tay xoa cho lọ thuốc nóng lên, bên trong lọ có một viên bi nhỏ có nhiệm vụ đảo đều thuôc lên, sau đó rút một lượng không khí vừa với lượng insulin cần đưa vào cơ thể tiếp đến kéo ống tiêm ra cho đến khi ta thu được một lượng thuốc vừa với khoảng không khí lúc ban đầu. Khi làm như thế bệnh nhân sẽ xác định chính xác lượng insulin cần đưa vào cơ thể. Sau khi có đủ lượng thuốc cần dùng. Lưu ý hướng của kim tiêm là hướng vuông góc 90 độ, không đâm xéo. Bệnh nhân chỉ có thể tiêm ở các vị trí trước bụng, vệ đùi, vùng đệm mông, mặt sau 2 bên cánh tay. Đó đều là những nơi thuốc đi vào máu nhanh nhất giúp hấp thu lượng thuốc cao.

Phản ứng sau khi tiêm insulin:

Việc tiêm insulin sẽ gây ra một số tác dụng phụ không mong muốn như tăng cân, dị ứng tuột đường huyết. Tình trạng hạ đường huyết là một dạng phản ứng khi tiêm insulin. Khi có các dấu hiệu vã mồ hôi, run tay, choáng váng, đói, mất nhận thức, co cơ, da xanh xao… bệnh nhân nên nghĩ ngay đến việc hạ đường huyết và nên dùng liền một ly sữa, bánh kẹo ngọt hay một ly nước đường… tình trạng trên sẽ nhanh chóng qua đi. Khi tiêm insulin cần đảm bảo cân bằng chúng với các loại thực phẩm hoặc lượng calo đưa vào cơ thể, khi vận động quá nhiều hoặc không tiêu thu đủ lượng thực phẩm thì lượng đường huyết có thể sụt giảm nghiêm trọng và gây ra những dấu hiệu trên.

Bệnh nhân tiểu đường nên học cách tự chăm sóc bản thân, cần vệ sinh tối đa vùng tiêm, thuốc và dụng cụ tiêm insulin. Sau khi sử dụng xong phải bảo quản insulin nơi thoáng mát, tránh ánh nắng mặt trời. Nên trang bị một máy đo đường huyết tại nhà, để ngăn ngừa việc hạ đường huyết đột ngột vì đường huyết cao có thể hạ được còn đường huyết thấp dãn đến nhiều nguy hiểm như hôn mê trở tay không kịp.

Insullin có thể giúp bệnh nhân tiểu đường giữu được mức đường huyết ở ngưỡng an toàn và làm giảm các biến chứng của bệnh tiểu đường như mù hay cắt cụt chi. Cần theo dõi lượng đường trong máu thường xuyên và thực hiện nhưng thay đổi trong lối sống hằng ngày để ngăn chặn lượng đường trong máu tăng lên quá cao.

II/ Bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin:

1. Bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin là gì?

Bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin hay còn được gọi là bệnh tiểu đường tuyp 2 là bệnh rối loại chuyển hóa đường glucose mạn tính khiến lượng đường trong máu tăng cao. Khi đó tuyến tụy vẫn hoạt động bình thường nhưng do các tế bào không thể sử dụng glucose trong máu làm nguồn năng lượng được dẫn đến lượng đường trong máu tăng cao và có thể gây tổn thương đến cơ thể bạn.

Có đến 90-95% bệnh nhân tiểu đường mắc tiểu đường tuyp 2. Bệnh tiểu đường tuyp 2 thường khởi phát ở người lớn độ tuổi 40 trở lên, tuy nhiên ngày nay càng nhiều trẻ em và người trẻ tuổi mắc phải căn bệnh tiểu đường tuyp 2 này nguyên nhân do bệnh béo phì ngày càng có xu hướng gia tăng ở trẻ em.

Hiện nay chưa có cách điều trị triệt để căn bệnh tiểu đường tuyp 2 này nhưng bệnh nhân có thể quản lý hoặc thậm chí ngăn chặn các biến chứng nguy hiểm xảy ra bắt đầu từ việc thay đổi chế độ ăn uống các thực phẩm lành mạnh, tập thể dục và duy trì cân nặng ổn định. Khi chế độ ăn uống và tập thể dụ thể thao không đủ, khi đó có thể dùng thuốc điều trị hoặc insulin để quản lý tốt lượng đường trong máu.

2. Nguyên nhân:

Ở bệnh tiểu đường tuyp 2 này, có trường hợp là do lượng tiết ra insulin bị giảm và cũng có trường hợp do kháng insulin. Nguyên dân do yếu tố môi trường và di truyền:

Yếu tố môi trường:

Do sự gia tăng lượng hấp thu chất béo do béo phì hay thiếu vận động và có những thói quen ăn uống không lành mạnh, không cân bằng dinh dưỡng  Trong những năm gần đây , người ta đã chỉ ra rằng việc hấp thu thiếu lượng chất xơ và maagie có ảnh hưởng rất lớn đến sự khởi phát của căn bệnh tiểu đường tuyp 2 này.

Yếu tố dinh truyền:

Theo WHO, bệnh tiểu đường không phải bệnh truyền nhiễm nhưng có khả năng di truyền, vì vậy khi bố mẹ mắc bệnh tiểu đường thì khả năng cao trẻ cũng sẽ mắc bệnh cho dù khi sinh ra trẻ chưa có bất kì dấu hiệu nào mắc bệnh tiểu đường. Ngoài ra nếu bố hoặc mẹ có những biến thể trong gen thì khi có thai những biến thể này cũng có thể gây ra bệnh tiểu đường cao.

3. Triệu chứng:

Bệnh tiểu đường tuyp 2 này hầu như không có triệu chứng cụ thể và rõ ràng vì thế bệnh nhân rất khó phát hiện bệnh. Đến khi bệnh chuyển biến xấu đi và bệnh nhân rơi vào tình trạng tăng đường huyết và nhiễm ceton, khi đó sẽ xuất hiện các triệu chứng tiểu đường như:

Khát nước:

Việc đi tiểu nhiều sẽ làm cơ thể thiếu nước tăng nhu cầu sử dụng nước để bù lại lượng nước đã mất đi, nên sẽ kích thích khiến người bệnh luôn cảm thấy khát nước và uống nhiều nước.

Đi tiểu thường xuyên:

Khi đường huyết tăng cao, cơ thể sẽ đào thải bớt lượng đường qua nước tiểu, khi đó thận sẽ lấy nước từ trong cơ thể để pha loãng với nước tiểu làm cho khối lượng nước tiểu tăng lên. Dẫn đến người bệnh thường xuyên đi tiểu.

Da khô và ngứa

Mờ mắt

Chức năng sinh lý suy giảm

Tê tay chân, thỉnh thoảng thấy hơi đau nhói

Vết thương chậm lành

Thường xuyên có cảm giác đối hoặc rất khát

Dễ bị nhiễm trùng.

Khi thấy bất cứ ai trong gia đình hay người thân có những triệu chứng trên, rất có thể họ đã mắc phải căn bệnh tiểu đường hay tiền tiểu đường, Vì thế cần chia sẻ và khuyên skhisch họ đi khám ngay để có thể kiểm soát bệnh được tốt, ngoài ra cũng cần nên chú ý vào chế độ ăn uống hợp lý, chăm chỉ vận động thể chất và cũng nên chú ý tới nguy cơ béo phì nửa nhé.

4. Biến chứng:

Khi bệnh tiểu đường tuyp 2 tiếp tục tiến triển sẽ làm tăng nguy cơ xuất hiện các biến chứng khác nhau. Biến chứng nguy hiểm có thể kể đến ở đây là tổn thương thần kinh, bệnh võng mạc tiểu đường, bệnh thận tiểu đường, ngoài ra còn gây ra các biến chứng bệnh khác như nhồi máu cơ tim, tắc nghẽn do xơ vữa động mạch, nhồi máu não, xơ vữa động mạch …

5. Xét nghiệm– Chuẩn đoán:

Dựa vào kết quả xét nghiệm máu để chuẩn đoán bệnh tiểu đường tuyp 2:

Lượng đường trong máu:

Bệnh nhân đầu tiên sẽ kiểm tra lượng đường trong máu. Lượng đường trong máu được chia thành đường huyết lúc đói và đường huyết sau ăn 2-3 giờ. Chỉ số đường huyết lúc đói ≥126mg/dl và đường huyết sau ăn ≥200 mg/dl là một trong những điều đầu tiên để chuẩn đoán bệnh tiểu đường.

Chỉ số HbA1C:

Gía trị của HbA1C cũng rất quan trọng trong việc chuẩn đoán căn bệnh tiểu đường. Nếu giá trị này ≥ 6.5% thì bệnh nhan được chuẩn đoán mắc bệnh tiểu đường. Hba1c là giá trị phản ánh chỉ số đường huyết trung bình trong 1-2 tháng trước do lượng glucose trong máu liên kết với Moglobin và tuổi thọ trung bình của hồ cầu là 120 ngày.

Xét nghiệm việc dung nạp 75g đường uống:

Để kiểm tra sự thay đổi lượng đường trong máu, thì việc xét nghiệm dung nạp glucose 75g đường uống ( 75g OGTT) sẽ được thực hiện. Ở xét nghiệm này, bệnh nhân sau khi  hấp thụ 75g glucose, tiến hành lấy máu theo thời gian và tiến hành đo lượng đượng trong máu.

Lượng đường có trong máu đối với người khỏe mạnh đạt đến giá trị tối đa khoảng 30 phút sau khi uống và trở về mức dưới giá trị tiêu chuẩn hoặc sau khoảng 2 giờ.

Tuy nhiên, trong trường hợp mắc phải bệnh tiểu đường thì lượng đường trong máu không giảm hoàn toàn và vãn còn ở mức cao. Gía trị đường huyết đo sau 2 giờ từ ≥200 mg/dl là một trong những điều kiện chuẩn đoán mắc bệnh tiểu đường.

6. Cách điều trị bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin:

Điểm mấu chốt của việc điều trị bệnh tiểu đường tuyp 2 đó là ăn uống và vận động thể dục, thể thao vừa phải đồng thời kết hợp dùng thuốc là điều rất quan trọng.

Ăn uống:

Thực hiện chế độ ăn uống hợp lí, phải biết cân đối giữa các thành phần proteid 15-20%, lipid 20-30% tổng số calo trong ngày, glucid 50-60%, ưu tiên chọn những thực phẩm có chỉ số đường huyết GI thấp, ăn nhiều chất xơ 100-200g/bữa, ngũ cốc nguyên hạt.

Vận động:

Bệnh nhân cần thường xuyên vận động, tối thiểu 30 phút/ngày, đều đặn 5 ngày trong tuần, nên thường xuyên kiểm tra đường huyết, huyết áp, tình trạng tim mạch trước khi tập. Các bài tập như đi bộ, đạp xe đạp, cầu lông, bơi lội…

Điều trị bằng thuốc:

Khi bệnh nhân không thể kiểm soát tốt lượng đường huyết qua chế độ ăn uống và vận động, thì sẽ tiến hành điều trị bằng thuốc. Đầu tiên sẽ cho sử dụng một hay nhiều loại thuốc khác nhau theo từng tình trạng bệnh nhân. Trường hợp sử dụng thuốc uống điều trị tiểu đường nhưng không hiệu quả, bệnh nhân sẽ được cho kết hợp điều trị bằng insulin hoặc chuyển sang chỉ điều trị bằng insulin.

Dù là bệnh tiểu đường ở mức độ nặng hay nhẹ thì điều quan trọng nhất trong việc điều trị là ở chính người bệnh chứ không ai khác. Vì thế hãy tích lũy, thu thập các thông tin để có thật nhiều kiến thức, hiểu biết về căn bệnh tiểu đường tuyp 2 này thì mới càng dễ dàng quản lý để điều trị bệnh tốt hơn.

III/ Bệnh tiểu đường phụ thuộc INSULIN:

Bệnh tiểu đường phụ thuộc vào insulin hay còn có tên gọi khác là tiểu đường tuyp 1. Đây là căn bệnh tự miễn dịch mà tuyến tụy bị phá hủy không tự sản sinh ra insulin nửa, người mắc bệnh tiểu đường tuyp 1 sẽ phải sống chung với bệnh suốt đời, có khoảng 15% người mắc bệnh tiểu đường tuyp 1 phần lớn là các trường hợp được chuẩn đoán là trẻ em, người trưởng thành.

Đối với tiểu đường tuyp 1, bệnh nhân phải tiêm insulin trong suốt thời gian sống chung với căn bệnh này. Loại bệnh tiểu đường này không thể phòng ngừa được, các giải pháp như tập thể dục, chế độ ăn uống khoa học sẽ giúp hạn chế các biến chứng nguy hiểm xuất hiện . Các biến chứng thường gặp phải là tăng đường huyết do nhiễm ceton hoặc tăng áp lực thẩm thấu dẫn đến tử vong nếu không được xử lý kịp thời. Những biến chứng tổn thương đến vi mạch thường xuất hiện sau vài năm mắc bệnh.

1.Triệu chứng bệnh tiểu đường phụ thuộc INSULIN:

Thường xuyên khát nước và đi tiểu nhiều do dư lượng đường có trong máu.

Nhanh đói: Nếu lượng insulin không có để chuyển vào các tế bào thì các cơ quan sẽ không hoạt động được, điều này khiến cơn đói kéo dài ngay cả khi vừa mới ăn.

Sụt cân nhanh chóng

Mệt mỏi

Mắt mờ: Do lượng đường huyết cao.

2. Nguyên nhân của bệnh tiểu đường này:

Theo các nhà khoa học, thì hiện nay có 3 yếu tố chính tác động tới người mắc bệnh :

Yếu tố di truyền:

Người có bố mẹ mắc bệnh tiểu đường thì con sẽ có nguy cơ bị tiểu đường cao hơn.

Hệ thống miễn dịch:

Các tế bào bạch cầu trong hệ thống miễn dịch tấn công làm suy giảm hoặc mất hẳn chức năng sản xuất ra insulin của tế bào tuyến tụy.

Do yếu tố khác:

Những yếu tố vi khuẩn, virut, môi trường, thực phẩm, độc tố… làm phá hủy tế bào beta của tuyến tụy là nguyên nhân gây ra bệnh lý.

3. Các biến chứng bệnh tiểu đường phụ thuộc INSULIN:

Tiểu đường không phụ thuộc insulin (bệnh tiểu đường tuyp1) có thể gây ảnh hưởng lớn trong cơ thể như mắt, dây thần kinh, thận, mạch máu, tim mạch… Luôn giữ đường huyết ở ngưỡng an toàn hầu như có thể làm giảm nguy cơ xảy ra biến chứng rất nhiều. Biến chứng phát triển dần dần, âm thầm qua nhiều năm:

Tim và bệnh mạch máu:

Bệnh tiểu đường làm tăng nguy cơ tim mjach bao gồm các bệnh như đau thắc ngực, đau tim, động mạch vành, đột quỵ, huyết áp cao… Trên thực tế có khoảng 65% những người đã chết vì bệnh tiểu đường gây ra.

Thần kinh:

Lượng đường dư thừa có thể làm tổn thương thành của các mạch máu nhỏ đang nuôi dưỡng các dây thần kinh, đặc biệt là ở chân gây ngứa, nóng , tê hay bị đau bất thường ở các ngón tay, chân và có chiều hướng lan lên trên. Không kiểm soát tốt lượng đường trong máu có thể làm mất cảm giác ở các chi, các dây thần kinh không kiểm soát sự tiêu hóa gây ra các vấn đề buồn nôn, táo bón, tiêu chảy, nôn mửa. Đối với nam giới làm rối loạn chức năng cương dương.

Tổn thương thận:

Ở thận có chứa hàng triệu mạch máu nhỏ, các cụm lọc chất thải khỏi máu. Bệnh tiểu đường cs thể làm hỏng hệ thống  lọc này, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến suy thận giai đoạn cuối phải chạy thận hoặc ghép thận.

Mắt:

Làm hỏng các mạch máu của võng mạc, có khả năng dẫn đến mù lòa hoặc các vấn đề khác như tăng nhãn áp và đục thủy tinh thể.

Tổn thương chân:

Lưu lượng máu kém và tổn thương thần kinh ở chân làm tăng nguy cơ biến chứng bàn chân. Nếu không điều trị vết thương có thể trở nên nhiễm trùng nặng khi đó có khả năng phải cắt cụt chi.

Da và miệng:

Bệnh tiểu đường có thể dễ bị các vấn đề về da kể cả có thể bị nhiễm trùng do vi khuẩn và nấm đặc biệt có thể bị nhiễm trùng miệng nếu có lịch sử vệ sinh răng miệng kém.

Loãng xương:

Khi bị tiểu đường mật độ xương thấp hơn so với bình thường làm tăng nguy cơ bị loãng xương .

Biến chứng khi mang thai:

Lượng đường trong máu cao gây nguy hiểm cho cả mẹ và bé. Có nguy cơ khiến thai chết lưu, sẩy thai hoặc dị tật bẩm sinh cũng tăng lên khi bệnh tiểu đường không kiểm soát tốt. Đối với người mẹ, bệnh tiểu đường làm tăng nguy cơ nhiễm toan ceton, bệnh lý võng mạc, tăng huyết áp và tiền sản giật.

4. Phương pháp điều trị bệnh tiểu đường phụ thuộc INSULIN

Mục tiêu điều trị:

+ Làm thuyên giảm các triệu chứng của bệnh tiểu đường.

+ Phòng ngừa các biến chứng để không ảnh hưởng tới cuộc sống.

+ Kéo dài tuổi thọ.

Phương pháp điều trị tiêm bổ sung insulin:

+ Tiêm insulin để đưa cơ thể về trạng thái tiết insulin giống như người khỏe mạnh bình thường.

+ Tiêm lượng insulin dung theo sự chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ nhằm đảm bảo liều lượng đúng cho người bệnh.

+ Chọn vị trí tiêm phù hợp để thuốc dễ dàng thẩm thấu và tác động tốt hơn tới cơ thể.  Không nên tiêm cố định tại một chỗ, nên tiêm xoay vòng các vị trí để thuốc được hấp thu dễ dàng hơn. Vị trí tiêm nên chọn vùng đùi, phần cánh tay, mặt trước bụng, phần hông.

+ Insulin chủ yếu được tiêm dưới da. Các trường hợp khi đã biến chứng cấp như hôm mệ ceton hoặc tăng thẩm thấu thì phải truyền qua đường tĩnh mạch.

5. Kết hợp chế độ ăn uống và thể dục hợp lý:

+ Ăn thực phẩm lành mạnh, ăn nhiều chất xơ, cân bằng các chất dinh dưỡng, hạn chế ăn đồ ngọt, thức uống ngọt, thực phẩm nhiều dầu mỡ….

+ Tập thể dục thường xuyên, nên chọn một chế độ tập luyện phù hợp với sức khỏe.

+ Luôn phải kiểm tra và giữ đường huyết ở mức ổn định.

Trích nguồn:
https://phucanduong.com/benh-tieu-duong-phu-thuoc-insulin-va-khong-phu-thuoc-insulin-la-gi/

Leave a Reply

avatar
  Subscribe  
Notify of